Mức lương tối thiểu năm 2007, mức lương tối thiểu sẽ tăng liên tục đến năm 2007

Căn cứ khoản 1, Điều 6 Nghị định số 166/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu chung và Nghị định số 167/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng đối với công ty nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ như sau:

I. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG.

Bạn đang xem: Mức lương tối thiểu năm 2007

1. Phạm vi điều chỉnh:

a) Công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, bao gồm:

- Tổng công ty nhà nước;

- Công ty nhà nước độc lập;

- Công ty mẹ là công ty nhà nước trong Tập đoàn kinh tế do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc phê duyệt đề án thành lập và giao cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập;

- Công ty mẹ là công ty nhà nước trong Tổng công ty hoặc công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.

- Tổng công ty, công ty thành viên hạch toán độc lập 100% vốn Nhà nước thuộc Tập đoàn kinh tế trong thời gian chưa chuyển đổi và đăng ký lại theo quy định tại Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2007 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp;

- Công ty thành viên hạch toán độc lập 100% vốn Nhà nước thuộc Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập;

b) Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Ngân hàng phát triển Việt Nam, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng và các tổ chức của Nhà nước đang áp dụng chế độ tiền lương như công ty nhà nước.

c) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Các công ty, tổ chức quy định tại điểm a, b và điểm c, khoản 1 mục I Thông tư này được gọi chung là công ty.

2. Đối tượng áp dụng:

a) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động quy định tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động.

b) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản lý, thành viên Ban kiểm soát, thành viên Hội đồng thành viên (hoặc Chủ tịch công ty), Kiểm soát viên, Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng (không bao gồm Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng làm việc theo hợp đồng).

II. THỰC HIỆN MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU CHUNG.

1. Mức lương tối thiểu chung thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 166/2007/NĐ-CP là 540.000 đồng/tháng.

2. Công ty căn cứ mức lương tối thiểu chung tại khoản 1 nêu trên và hệ số lương, phụ cấp lương quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP, Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ để tính mức l­ương, phụ cấp lương làm căn cứ tính đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tiền lương ngừng việc; nghỉ ngày lễ; nghỉ hàng năm và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động.

Việc tính mức lương và phụ cấp lương được thực hiện như sau: lấy hệ số lương cấp bậc theo chức danh nghề, công việc; hệ số lương chuyên môn, nghiệp vụ; hệ số lương chức vụ được xếp, phụ cấp lương, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) nhân với mức lương tối thiểu chung 540.000 đồng/tháng.

Ví dụ 1: ông Nguyễn Văn A xếp lương ngạch chuyên viên bậc 5, hệ số 3,58 và hưởng phụ cấp độc hại, nguy hiểm mức 0,2, phụ cấp thu hút mức 20% theo quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP. Việc điều chỉnh mức lương, phụ cấp của ông A được tính như sau:

- Mức lương là: 3,58 x 540.000 đồng/tháng = 1.933.200 đồng/tháng

- Mức phụ cấp độc hại, nguy hiểm là: 0,2 x 540.000 đồng/tháng = 108.000 đồng/tháng

- Mức phụ cấp thu hút là: 20% x (3,58 x 540.000 đồng/tháng) = 386.640 đồng/tháng

3. Đối với người lao động dôi dư thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động, nhận trợ cấp mất việc làm theo quy định tại khoản 4, Điều 3 và Điều 4 Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước, thì trợ cấp mất việc làm cho thời gian làm việc trong khu vực nhà nước từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 trở đi và trợ cấp đi tìm việc làm được tính theo mức lương tối thiểu chung 540.000 đồng/tháng. Khi thực hiện các khoản trợ cấp này thì bổ sung thêm các cột tương ứng để tính thời gian làm việc thực tế trong khu vực nhà nước và tính trợ cấp mất việc làm vào biểu số 9, biểu số 10 ban hành kèm theo Thông tư số 18/2007/TT-BLĐTBXH ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Đối với người lao động dôi dư thuộc diện nghỉ hưu trước tuổi thì trợ cấp thêm theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 3 Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ, từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 trở đi được tính theo mức lương tối thiểu 540.000 đồng/tháng.

III. THỰC HIỆN MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG.

Xem thêm: #Review Anh Bước Ra Từ Trong Ánh Lửa (2023) Full Vietsub, Anh Ấy Bước Ra Từ Ánh Lửa (2023) Full Vietsub

1. Mức lương tối thiểu vùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường ở các công ty thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 theo Điều 2 Nghị định số 167/2007/NĐ-CP như sau:

a) Mức 620.000 đồng/tháng áp dụng đối với công ty hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.

b) Mức 580.000 đồng/tháng áp dụng đối với công ty hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; các quận thuộc thành phố Hải Phòng; thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh; thành phố Biên Hoà, thị xã Long Khánh, các huyện: Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu và Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai; thị xã Thủ Dầu Một, các huyện: Thuận An, Dĩ An, Bến Cát và Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương; thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

It looks like your browser does not have Java
Script enabled. Please turn on Java
Script and try again.
*

*

Lao động xã hội được chia thành hai khối chính là lao động khu vực thị trường, gồm lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cung cấp dịch vụ và lao động khu vực hành chính, sự nghiệp công lập, kể cả lực lượng vũ trang. Chính sách tiền lương của hai khu vực này có nhiều điểm chung nhưng cũng có một số điểm riêng do tính chất công việc, vị trí lao động, điều kiện làm việc, v.v.. Trong chính sách tiền lương, mức lương tối thiểu có vai trò rất quan trọng. Việc xây dựng khung pháp lý về mức lương tối thiểu cho cả hai khu vực ở nước ta đã trải qua một hành trình dài. Hiện nay, chính sách tiền lương tối thiểu áp dụng cho khu vực lao động thị trường đã được xây dựng, điều chỉnh theo xu hướng được đánh giá là tốt hơn, hoàn thiện hơn, nhưng chính sách này đối với khu vực hành chính, sự nghiệp công lập thì đã có “lối rẽ” khác và cần được nhìn nhận lại.
*

Khi xây dựng và áp dụng chính sách một mức lương tối thiểu cho hai khu vực lao động, chúng ta đã không dựa trên tính chất, đặc thù công việc của từng khối. Đó là, hầu hết người lao động làm việc tại khu vực hành chính, sự nghiệp công lập là những người được đào tạo dài hạn, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật chuyên sâu, là lao động trí tuệ, thực hiện những công việc yêu cầu phải có khả năng tư duy, phân tích, trong đó có những người phải đảm nhận các vị trí công tác chủ chốt trong hệ thống chính trị của đất nước như công tác Đảng, quản lý Nhà nước, công tác Mặt trận Tổ quốc v.v.. Trong khi đó, tỷ trọng lớn lực lượng lao động tại khu vực thị trường là những người được đào tạo ngắn hạn, lao động phổ thông. Ngoài ra, nhu cầu tiêu dùng và giải trí cho cuộc sống và phục vụ công việc giữa hai lực lượng lao động cũng có sự khác nhau đáng kể.
Khi xây dựng mức lương tối thiểu chung mà thực chất là mức lương tối thiểu để áp dụng riêng cho khu vực hành chính, sự nghiệp công lập chỉ bằng mức lương tối thiểu thấp nhất trong thang lương tối thiểu (540.000 đồng/tháng) của người lao động tại các doanh nghiệp trong nước thì hạn chế của chính sách tiền lương đã thể hiện rõ rệt. Lực lượng lao động trí tuệ, dùng chất xám chỉ được trả mức lương tối thiểu tương đương với người lao động khu vực thị trường trong nước được đào tạo ngắn ngày hoặc lao động phổ thông làm việc chủ yếu ở nông thôn, miền núi. Một lần nữa, việc xây dựng chính sách tiền lương vẫn chưa xem xét, nghiên cứu về sự khác biệt, tính chất và sự đặc thù giữa hai khu vực lao động.
Từ năm 2009 đến nay, người lao động khu vực thị trường được thống nhất mức lương tối thiểu theo 4 vùng cho tất cả các loại doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam. Đến nay, sau 07 lần điều chỉnh<2>, mức lương tối thiểu vùng I từ 800.000 đồng/tháng đã lên 3.100.000 đồng/tháng; tương tự như vậy, vùng II từ 740.000 đồng lên 2.750.000 đồng, vùng III từ 690.000 đồng lên 2.400.000 đồng, vùng IV từ 650.000 đông lên 2.150.000 đồng. Cũng trong thời gian này, người lao động thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp công lập chỉ được điều chỉnh lương 05 lần. Cụ thể, qua các lần điều chỉnh<3>, mức lương tối thiểu đã tăng từ 650.000 đồng/tháng từ năm 2009 lên 1.150.000 đồng/tháng từ năm 2013.
Chúng ta đều biết rằng, chính sách tiền lương là chính sách cốt lõi nhất trong các chính sách đối với người lao động. Chúng ta cũng đã hô hào tạo mọi điều kiện vật chất, tinh thần cho đội ngũ lao động trí tuệ - chất xám, lao động khoa học để họ phát huy khả năng sáng tạo phục vụ đất nước nhưng chính sách tiền lương đang được áp dụng cho người lao động khu vực này hiện đang tỏ ra quá nhiều bất cập, thiếu hợp lý.
Câu hỏi đặt ra là chính sách tiền lương như hiện nay liệu có thể phát huy được tác động tích cực của nó không? Câu hỏi này xin gửi tới các nhà hoạch định chính sách tiền lương áp dụng cho khu vực hành chính, sự nghiệp công lập nghiên cứu, làm sáng tỏ. Chúng tôi suy nghĩ rằng, lâu nay, cách tiếp cận về xây dựng, áp dụng chính sách tiền lương đối với khu vực hành chính, sự nghiệp công lập đã sai lệch. Chính sách tiền lương này chẳng những không phát huy được tác động tích cực mà còn hạn chế tất cả bốn chức năng cơ bản vốn có của nó, đó là (i) thước đo giá trị (giá trị của lao động trí tuệ không được đánh giá chính xác); (ii) tái sản xuất sức lao động (tiền công, tiền lương được trả thấp và không đủ để tái sản xuất sức lao động); (iii) kích thích nâng cao hiệu quả công tác (người lao động không được trả tiền công, tiền lương xứng đáng nên họ không có động lực nâng cao hiệu quả công việc) và (iv) tích lũy, để dành (tiền công, tiền lương chưa đủ chi tiêu nên không còn tích lũy, để dành).
Kể từ khi áp dụng mức lương tối thiểu cho đến khi xây dựng và áp dụng mức lương cơ sở theo Nghị định số 66/2013/NĐ-CP nêu trên, chưa có báo cáo đầy đủ, nghiêm túc về việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá và tổng kết những kết quả đạt được, những điểm hạn chế, thiếu sót của chính sách tiền lương tối thiểu, cũng chưa có một công trình khoa học hay một đề án nào nghiên cứu, đề xuất một chính sách tiền lương hợp lý hơn thay cho mức lương tối thiểu.
- Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng, thực chất mức lương cơ sở vẫn như mức lương tối thiểu của khu vực hành chính, sự nghiệp công lập. Đối tượng áp dụng và cách tính không thay đổi. Trước đây, mức lương cụ thể của một người (chưa kể phụ cấp nếu có) bằng mức lương tối thiểu chung nhân với hệ số lương của người đó thì hiện nay được thay bằng mức lương cơ sở nhân với hệ số lương của người đó. Hạn chế, tồn tại của chính sách được thể hiện ở chỗ mức lương cơ sở khi được so sánh với mức lương tối thiểu của khu vực lao động thị trường thì sự chênh lệch ngày càng lớn. Do đó, để hạn chế sự so sánh mức độ tương quan về mức lương giữa hai khối, người ta phải đặt ra một cái tên mới là mức lương cơ sở để áp dụng cho người lao động của khu vực hành chính, sự nghiệp công lập. Thực tế, về mặt bản chất, mức lương cơ sở hay mức lương tối thiểu đều là một phạm trù về kinh tế - xã hội và nó tác động, chi phối kết quả làm việc và đời sống sinh hoạt của con người. Do đó, việc thay đổi thuật ngữ của khái niệm không thể thay đổi bản chất, nội hàm của phạm trù này.
Cũng như nhóm ý kiến thứ nhất, nhóm ý kiến cho rằng mức lương cơ sở là dựa theo phương pháp tính mức chuẩn nhanh chóng bị phủ nhận vì lao động thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp công lập không tồn tại yếu tố bất công bằng như đối với trường hợp người có công với cách mạng, nên không thể có cơ sở, lý do xác đáng để quy định mức chuẩn.
- Nhóm ý kiến thứ ba, tương tự nhóm ý kiến thứ nhất, nhưng cho rằng lý do phải đổi thành mức lương cơ sở là tiền lương của lao động khu vực hành chính, sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước chi trả, nhưng hiện nay ngân sách nhà nước đang thiếu hụt trong khi số lượng biên chế lại quá nhiều (khoảng 2,8 triệu người). Nếu cùng chung mức lương tối thiểu của lao động khu vực thị trường (chưa tính đến mức lương đáng ra là phải cao hơn) thì quỹ lương sẽ tăng lên gấp hai cho đến gấp hơn ba lần quỹ lương hiện tại, trong khi ngân sách nhà nước đang bị thâm hụt đáng kể. Phương án được áp dụng là chấp nhận sự bất hợp lý khi giá trị lao động trí tuệ -chất xám được trả thấp hơn nhiều so với giá trị lao động phổ thông, tay nghề thấp của khu vực thị trường để tránh việc phải tăng quỹ tiền lương của ngân sách nhà nước. Từ đó, người ta đã “trừu tượng hóa” bằng cái tên mức lương cơ sở.
Nói tóm lại, các ý kiến đều mong muốn làm rõ cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của mức lương cơ sở, đồng thời phải đánh giá đúng giá trị của lao động tri thức, chất xám - trí tuệ thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp công lập. Trong khi chờ các cơ quan hữu trách thực hiện việc này, chúng tôi xin nêu một số ý kiến như sau:
- Trước hết, cần hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của lao động khu vực hành chính, sự nghiệp công lập phần lớn là các nhà nghiên cứu, những người hoạch định, thực thi chính sách, chế độ, người quản lý, lãnh đạo, là những người lao động thực hiện những công việc có độ phức tạp cao. Như đã biết, lao động khu vực hành chính, sự nghiệp công lập là lao động trí óc và đã được đề cập “...trong cùng một thời gian, lao động phức tạp đem lại hiệu quả nhiều hơn lao động giản đơn. Do đó, tùy theo mức độ của lao động phức tạp cao hay thấp mà quy thành một bội số của lao động giản đơn”<4> và lao động trí óc và lao động chân tay vẫn còn có những khác biệt quan trọng về mặt kinh tế - xã hội, về điều kiện lao động, về mức sống, về trình độ văn hóa và trình độ phát triển trí tuệ cá nhân. Rất nhiều các nhà quản lý, lãnh đạo, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, pháp luật, các phóng viên báo chí, các chuyên gia, nhà văn... không chỉ làm việc trong giờ hành chính mà họ còn thực hiện công việc ngoài giờ bất kỳ ở đâu, bất kể lúc nào được yêu cầu hoặc bất chợt lóe lên những suy nghĩ mới trong công việc của họ. Địa điểm (trụ sở, cơ quan) nơi làm việc của lao động khu vực hành chính, sự nghiệp công lập tuyệt đại bộ phận là ở các thị trấn, thị xã, thành phố, tức là phần lớn các cán bộ, công chức, viên chức có nơi làm việc ở vùng I, vùng II... Từ những đặc điểm trên, việc áp dụng mức lương tối thiểu hay hiện nay là mức lương cơ sở thấp hơn quá nhiều so với lao động khu vực thị trường đã thể hiện sự thiếu hợp lý, bất cập của chính sách tiền lương.
<4> Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 2, trang 644.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.